Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Hiểm họa từ kính giãn tròng không nguồn gốc rõ ràng

Hiểm họa từ kính giãn tròng không nguồn gốc rõ ràng. Kính giãn tròng làm tròng mắt trông to ra với viền đặc biệt ở vòng ngoài của kính.


Loại kính này được giới trẻ và một số ca sĩ, người mẫu, diễn viên lùng mua, thậm chí rộ lên mốt đeo kính giãn tròng. Tuy nhiên, nhiều người lại không biết rằng đây là kiểu làm đẹp tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây tổn thương cho mắt.


Hiểm họa từ kính giãn tròng không nguồn gốc rõ ràng


Đẹp song độc!


Phóng viên báo Sức khỏe&Đời sống đã tiếp cận với bệnh nhân mới nhất, chị Trương Vĩnh Ngọc (Đê La Thành, Hà Nội) tại Khoa Chấn thương (BV Mắt Trung ương). Chị Ngọc – sinh viên năm cuối trường nghệ thuật quân đội chia sẻ: Cuối tháng 6 vừa qua, chị cùng một số thành viên trong lớp được nhà trường tuyển chọn vào đội hoạt động tri ân các liệt sĩ (chuẩn bị cho ngày 27/7 sắp tới). Vì chị học lớp chèo trong trường nên thuộc diện ưu tiên nhập vai một tác phẩm kịch chuẩn bị lưu diễn tại Trường Sa. Thông qua trang mạng, chị đọc được thông tin có loại kính mắt áp tròng khi đeo vào sẽ biến mắt thành những hòn ngọc long lanh, trong veo đầy cá tính (theo nội dung quảng cáo). Giá thành thì rất rẻ, chỉ chưa đầy 400 ngàn đồng, sử dụng lại đơn giản, chỉ cần ép vào trong giác mạc mắt như đeo kính áp tròng. Chị Ngọc đã đặt tiền mua qua mạng cặp kính này. Tuy nhiên, chỉ sau 3 tuần đeo, mặc dù đã tuân thủ những quy định ghi từ nhà bán kính mắt trên internet, song mắt chị vẫn bị sưng vù, có tạo mủ. Chị vào Khoa Chấn thương BV Mắt Trung ương được các bác sĩ kết luận bị viêm kết mạc do nấm. Rất may chị được điều trị kịp thời nên không ảnh hưởng đến thị giác.


Không được may mắn như chị Ngọc, chị Đỗ Diệu Linh đang là người mẫu ảnh cho một công ty mỹ phẩm nổi tiếng P. Sau khi được các bác sĩ chuyên khoa mắt BV Mắt Trung ương điều trị, chị chia sẻ: Vì công việc nên có thời gian (hơn 2 tháng) chị đã sử dụng kính giãn tròng (đặt mua qua mạng) để có được những bức ảnh ưng ý và phong cách. Tuy nhiên, do sử dụng kính giãn tròng liên tục nên chị có hiện tượng bị nhức mắt, ngứa, đau mắt, thậm chí có dịch vàng chảy ra, thị lực giảm nhiều. Sau khi đi khám, bác sĩ chuyên khoa kết luận, bệnh nhân nhìn mờ, thị lực giảm còn 5 – 6/10. Bệnh nhân nhìn vật thấy biến dạng, méo, cong. Nhìn vật phần nhiều xa, nhỏ. Khám đáy mắt phát hiện thấy hoàng điểm sẫm màu, giảm hay mất ánh sáng trung tâm. Vùng tổn hại lồi cao bờ phản sáng có khi cả vòng tròng, màu sắc vàng, nhỏ tròn như đầu kim, rải rác ở vùng tổn hại, những chấm này không đúc nhập lại và tồn tại kéo dài nhiều tháng, tiêu rất chậm. Nguyên nhân là do chị dùng kính giãn tròng trong thời gian dài.


kính giãn tròng bán tràn lan trên mạng


Kính áp tròng nào cũng phải có chỉ định chuyên khoa


Theo BS. Hoàng Cương, Phó khoa Khám bệnh, BV Mắt Trung ương, các loại kính được đặt lên lòng đen (giác mạc) có tên chung là kính áp tròng hay kính tiếp xúc, với những chỉ định chính: điều trị các tật khúc xạ như: cận – viễn – loạn thị (thay thế kính gọng thông thường); điều trị một số bệnh: giác mạc hình chóp, trượt biểu mô giác mạc tái phát, sau mổ LASIK…  Kính giãn tròng là một loại kính áp tròng, do vậy đòi hỏi các chỉ định mang tính chuyên khoa. Mục đích thẩm mỹ hay thỏa mãn thú chơi của người sử dụng không được giới y khoa khuyến khích. Lạm dụng kính được hiểu theo hai nghĩa: không có bệnh mà vẫn dùng để thỏa mãn thú chơi; đeo kính quá lâu so với tuổi thọ của kính hay lười tháo lắp, lười vệ sinh kính. Lạm dụng kính không sớm thì muộn sẽ gây hại cho mắt. BS. Hoàng Cương cho biết: Giới trẻ đang sử dụng nhiều loại kính tiếp xúc như một cách trang trí cho mắt: thay đổi màu mắt, tạo hình ảnh đồng tử giãn to giả tạo, có hình ảnh của con thú được ưa thích hay hình trái bóng… Xin nói ngay là nguồn gốc của các kính trên không rõ ràng, không ai dám đảm bảo chất lượng cũng như không ai đền bù cho họ nếu có thiệt hại do kính gây ra. Thêm nữa, đeo kính tiếp xúc không đúng chỉ định, lạm dụng hay vệ sinh kém, sai sót về kỹ thuật tháo lắp có thể gây ra các tai biến sau: xước, trượt lòng đen gây đau đớn; loạn dưỡng lòng đen, viêm nhiễm hoặc loét lòng đen do vi khuẩn, virut hay nấm; nếu có dị vật bay vào mắt bị kẹt giữa kính và lòng đen thì sẽ rất khó lấy ra, làm bệnh nhân đau đớn nhiều trong khi bác sĩ cũng khó thao tác khi lấy dị vật. Như vậy, cái hay, cái đẹp do kính trang trí mang lại thì ít nhưng tốn kém và nguy hại thì lại nhiều.


Nếu người sử dụng không nắm rõ cách sử dụng và những thông tin liên quan tới nguồn gốc của loại kính này thì sẽ nguy hại trực tiếp đến thị lực người sử dụng, thậm chí có khả năng dẫn đến mù lòa.


                                                                                                                                                                                        Hoàng Cương – Hỏa Long



Hiểm họa từ kính giãn tròng không nguồn gốc rõ ràng

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

Thuốc nở ngực phụ nữ có tin tưởng được hay không?

Thuốc nở ngực phụ nữ có tin tưởng được hay không? Hiện nay có rất nhiều quảng cáo về thuốc làm nở ngực với những lời lẽ hấp dẫn nhằm vào các chị em có vòng ngực một khiêm tốn. Vậy thực hư về chất lượng và tác dụng của các sản phẩm này như thế nào?


Những sản phẩm quảng cáo về loại thuốc nâng ngực có rất nhiều trên thị trường và các trang mạng. Sản phẩm thường được quảng cáo với những lời lẽ có cánh như nâng số đo vòng 1 lên 1,5 – 3 cm, làm nở săn chắc ngực nhanh chóng, hiệu quả chỉ trong vòng 15 ngày sử dụng, hoàn toàn chiết xuất từ thiên nhiên, không tác dụng phụ. Những lời trên đã đánh trúng vào tâm lý của rất nhiều chị em phụ nữ.


thuoc-no-nguc-phu-nu-co-tin-tuong-duoc-hay-khong



Theo Ts. Ds. Nguyễn Hoàng Anh, Phó giám đốc Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc, Đại học Dược Hà Nội, thực chất những sản phẩm này thường núp bóng dưới thực phẩm chức năng, kem bôi da, bánh kẹo giúp nở ngực.


Cũng theo nhiều nhà chuyên môn khác, hầu hết các loại kem thuốc tiêm làm nở ngực được quảng cáo tại các mỹ viện làm đẹp, các website giao bán thuốc đều có chất estrogen. Estrogen nội sinh là hoóc môn sinh dục nữ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ sinh dục nữ. Thực tế nhiều người dùng thấy ngực có vẻ căng tròn hơn là do tác dụng phụ của estrogen gây giữ nước, gây béo giả.


Ths. Ds. Nguyễn Hoàng Anh cho biết, tác dụng của phytos estrogen chủ yếu mới được đánh giá trên các mô hình của động vật, việc nghiên cứu thử nghiệm trên người là rất ít và chưa đem lại kết luận rõ ràng. Chính vì thế, trong thực tế có nhiều trường phái khác nhau khuyến cáo chỉ sử dụng phytos estrogen thay thế cho hoóc môn của phụ nữ trong những trường hợp để tạo ra săn chắc ngực, hoặc cho những trường hợp suy giảm hoóc môn này ở phụ nữ thường tuổi 40 trở đi, đặc biệt tuổi mãn kinh và tiền mãn kinh. Tuy nhiên hiệu quả của nó vẫn chưa rõ ràng và chưa có bằng chứng cụ thể để trở thành thuốc thực sự. Đã có những quảng cáo không đúng sự thực và vượt quá rất nhiều khả năng mà thuốc có thể làm được. Trên thực tế đây chỉ là những thực phẩm chức năng, ngay kể cả thuốc cũng không tạo ra những tác dụng kỳ diệu như vậy.


Theo các chuyên gia, kích thước và hình dáng của tuyến vú phụ thuộc vào cấu trúc của tuyến sữa, các bó cơ ngực và lớp mỡ đệm dưới da. Vì thế để có vòng ngực nở nang phụ nữ cần có một chế độ dinh dưỡng phù hợp và luyện tập khoa học chứ không nên kỳ vọng vào các sản phẩm được gọi là thần nở ngực, vừa tốn kém lại vừa nguy hại đến sức khỏe.


                                                                                                                                                                                                      Theo VnMedia



Thuốc nở ngực phụ nữ có tin tưởng được hay không?

Cách khắc phục hôi miệng

Cách khắc phục hôi miệng. Miệng là cửa ngõ của sự tiêu hóa và hô hấp, có nhiệm vụ quan trọng trong việc tiêu hóa thực phẩm. Nếu không khéo giữ gìn thì cũng dễ mắc bệnh, nhất là hôi miệng.


Cach-khac-phuc-hoi-mieng


Có nhiều nguyên nhân


Hơi thở hôi là dấu hiệu một bệnh nào đó của cơ thể. Ðây là một chứng bệnh rất phổ biến với nhiều nguyên nhân phức tạp. Thường thường, khi nói tới hôi miệng thì nhiều người cho là do bệnh từ dạ dày, nhưng thực ra những 85% trường hợp hôi miệng lại chính từ miệng, còn lại 15% đến từ nhiều lý do khác nhau, trong đó có vấn đề dinh dưỡng, ăn uống.


Miệng nơi trú ẩn nhiều loại vi sinh vật, đặc biệt là ở phần sau của lưỡi. Đa số các vi khuẩn này thuộc nhóm kỵ khí nghĩa là chúng chỉ tăng sinh trong môi trường không có ôxy như trong bựa răng, khe răng, túi nha chu nhất là ở mặt sau của lưỡi. Do thức ăn sót lại trong miệng hoặc ở các kẽ răng bị phân hóa bởi các vi sinh vật tạo ra mùi hôi. Nếu không được vệ sinh sẽ dẫn đến nhiễm khuẩn ở nướu răng gây hôi miệng. Ngoài ra, miệng khô, như ngủ ban đêm thở bằng miệng hoặc dưới tác dụng của vài dược phẩm, hút thuốc lá khiến cho miệng khô, vi khuẩn xâm nhập và tạo ra mùi hôi. Các bệnh nấm miệng, răng giả không được vệ sinh đúng cách cũng là một trong những nguyên nhân gây mùi hôi.


Một số thực phẩm có chất dầu gây hôi cho hơi thở như tỏi, hành,… sau khi được tiêu hóa được hấp thụ vào máu, lên phổi và theo hơi thở dẫn đến hôi miệng. Một số bệnh về hô hấp như viêm phổi mạn tính, viêm xoang mạn tính; các bệnh về dạ dày (rối loạn về sự co bóp dạ dày, hẹp môn vị, thoát vị khe thực quản…) có thể dẫn đến hôi miệng. Đối với những trường hợp mắc bệnh mạn tính phải dùng thuốc có tác dụng phụ gây khô miệng như: Thuốc chống dị ứng benadryl, tâm thần, trầm cảm, thuốc lợi tiểu tiện, trị bệnh Parkinson, tăng huyết áp…khiến miệng hôi.


Khắc phục miệng hôi


Trước hết, cần vệ sinh răng miệng sau khi ăn, kể cả khi ăn vặt. Sau khi chải răng có thể cần dùng chỉ nha khoa hoặc tăm nhỏ lấy hết thức ăn sót trong miệng, đặc biệt là ở kẽ răng. Đồng thời có thể tạm thời làm giảm mùi hôi với kẹo cao su không đường để tăng tiết nước bọt và át mùi hôi miệng. Hoặc có thể súc miệng với các mỹ phẩm làm thơm miệng. Sau bữa ăn có thể dùng hoa quả nhiều chất xơ như táo, cà rốt, lê khi nhai có thể làm sạch miệng. Hoặc có thể nhai một vài lá cây có mùi thơm như quế, gừng, rau mùi tây, bạc hà, hồi, chè xanh… cũng tạm thời át mùi hôi ở miệng.


Hạn chế uống rượu, cà phê.


Nếu hôi miệng kéo dài hoặc do mắc bệnh phải dùng thuốc  thì cần đến cơ sở y tế để khám và điều trị.


                                                                                                                                                               Bác sĩ Nguyễn Ý Đức



Cách khắc phục hôi miệng

11 cách phòng cúm khi mang thai

Cúm có thể bị lây dễ dàng khi mang bầu với các triệu chứng: Sốt; sổ (nghẹt) mũi; ho; đau đầu; ớn lạnh; đau nhức cơ bắp; mệt mỏi; mất cảm giác ngon miệng… Dưới đây yhocphothong.com.vn đưa ra 11 cách phòng cúm khi mang thai cho bà bầu tham khảo.


Tác hại

Tác hại của cúm:
Theo các nghiên cứu khoa học gần đây, khi người mẹ bị nhiễm bệnh nặng do các virus cúm nói chung gây ra, dẫn đến mẹ bị sốt cao, nhiễm khuẩn, nhiễm độc và có thể làm cho thai bị hỏng, sảy thai.


Cũng theo báo cáo hằng năm của Hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ cho biết, có khoảng 14% bé bị tâm thần phân liệt ảnh hưởng từ việc mẹ bị cúm trong thời kỳ mang thai.


Còn theo bác sĩ Phó Đức Nhuận (bệnh viện Phụ sản Trung ương), các loại virus nói chung và virus cúm tuy có thể là một trong những nguyên nhân gây dị tật cho thai nhi nhưng nếu thai nhi bị dị tật thì nguyên nhân gây bệnh chưa chắc đã là do virus gây ra.


Tác hại của sốt: Kết quả các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, nếu mẹ bị sốt trong khoảng 3 tháng trước khi mang thai và trong 3 tháng đầu thai kỳ có thể gây nguy cơ dị tật tim bẩm sinh ở bé (11,2%). Nếu mẹ bị mắc các bệnh có triệu chứng sốt trong thời gian này cũng có thể làm tăng 80% khả năng bé bị dị tật tim (so với các mẹ mang thai khác), đặc biệt với bệnh cảm và sốt, khả năng này có thể tăng hơn gấp 2 lần bình thường.


Nghiên cứu cũng cho thấy cơ thể bé thường đáp ứng rất kém với tình trạng tăng nhiệt ở mẹ khi mẹ bị sốt. Vì vậy, tùy theo tuổi thai và tình trạng sức khỏe mà mẹ có thể bị sảy thai, sinh non hay thai chết lưu.


Ngoài ra, việc mẹ dùng các loại thuốc chữa ho, cảm hoặc thuốc giảm đau trong 3 tháng đầu thai kỳ cũng dễ gây các nguy cơ khuyết tật bẩm sinh hiếm gặp ở ruột của bé (chẳng hạn như bé bị tật nứt bụng hoặc hẹp ruột non…).


11 cách phòng cúm khi mang thai1


11 cách phòng cúm khi mang thai


Ăn sữa chua và rau quả hàng ngày; thường xuyên đi bộ, hít thở không khí trong lành… có thể giúp thai phụ ngăn ngừa cảm cúm.


1. Tránh sờ tay lên mặt: Virus gây cúm có khả năng xâm nhập vào cơ thể qua đường mắt, mũi và miệng. Bàn tay là khu vực tiếp xúc và lưu trữ nhiều loại virus trong đó có virus gây cúm.


Khi đưa tay lên mặt, vô tình, mẹ đã giúp các loại virus này lại gần mũi, miệng và khiến chúng dễ có cơ hội gây bệnh cho cơ thể hơn. Ngoài ra, mẹ cũng nên hạn chế ôm, bế và cho bàn tay các bé chạm vào mặt mình để đề phòng.


2. Không dùng tay che miệng khi hắt hơi hoặc ho: Bởi vì thời điểm mẹ hắt hơi hoặc ho, miệng và mũi mẹ ở cơ chế mở nên dễ bị lây nhiễm virus từ bàn tay nếu mẹ lấy tay che miệng.


3. Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng: Các loại virus gây cúm có khả năng lây lan và phát tán mạnh mẽ. Nếu mẹ chạm tay vào điện thoại, bàn phím máy tính, nắm cửa… chứa virus thì nguy cơ mắc bệnh khá cao. Bởi vì các loại virus này có thể sống hàng giờ, thậm chí, cả ngày trên bàn tay con người.


Vì vậy, mẹ nên thường xuyên rửa tay bằng xà phòng diệt khuẩn, chú ý chà xát các kẽ ngón tay trong vòng một vài phút và lau khô tay bằng khăn sạch.


Tốt nhất, mẹ nên chuẩn bị một chiếc khăn giấy để che miệng khi ho hoặc hắt hơi. Sau đó, mẹ nên vứt chiếc khăn giấy ấy ngay lập tức. Trường hợp không có khăn giấy, mẹ nên quay mặt về phía không có người khi cơn hắt hơi hoặc cơn ho chuẩn bị xuất hiện.


4. Uống nhiều nước: Mẹ nên uống tối thiểu 6-8 cốc nước mỗi ngày khi mang thai. Dấu hiệu đơn giản để nhận biết cơ thể thiếu nước hay không được phân biệt qua màu sắc của nước tiểu: Nếu nước tiểu có màu vàng trong, chứng tỏ mẹ đã uống đủ nước. Nếu nước tiểu sẫm màu, mẹ cần bổ sung thêm nước uống. Nước có tác dụng “súc rửa” và thanh lọc những độc hại trong cơ thể, tăng sức đề kháng, giúp mẹ phòng chống bệnh.


5. Bổ sung rau quả: Các loại rau quả có màu xanh sậm, vàng, đỏ rất giàu vitamin và khoáng chất có tác dụng củng cố sức khỏe, tăng sức đề kháng, chống cúm.


11 cách phòng cúm khi mang thai2


6. Ăn sữa chua: Một vài nghiên cứu khoa học chứng minh rằng, nhóm thai phụ mỗi ngày ăn một hộp sữa chứa ít chất béo sẽ giảm 25% nguy cơ mắc cúm. Những loại vi khuẩn có lợi tự nhiên trong sữa chua giúp tăng cường chức năng miễn dịch và phòng bệnh cho cơ thể.


7. Nói không với đồ uống chứa cồn: Các loại đồ uống có cồn “tiêu diệt” sức khỏe thai phụ và thai nhi một cách từ từ. Nó khiến cơ thể luôn trong tình trạng bị mất nước và gây suy giảm hệ miễn dịch.

8. Tránh xa khói thuốc: Các thống kê về sức khỏe kết luận, khói thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh cảm và các chứng bệnh về hô hấp khác cho thai phụ. Hơn nữa, khói thuốc lá còn là môi trường độc hại cho sự phát triển của thai nhi. Những chất hóa học được tìm thấy trong khói thuốc làm suy yếu hệ miễn dịch, làm khô đường hô hấp… và khiến virus cảm dễ xâm nhập vào cơ thể.


9. Nghỉ ngơi nhiều hơn: Nghỉ ngơi là cách để cơ thể phục hồi năng lượng và sức khỏe. Mỗi ngày, mẹ dành 30 phút thư giãn, không làm gì cả, cũng không suy nghĩ tới bất kỳ điều gì, khẽ nhắm mắt lại và trò chuyện yêu thương với em bé trong bụng.


10. Hít thở không khí trong lành: Thời tiết nóng hay lạnh quá khiến mẹ ngại vận động ngoài trời. Đây chính là nguy cơ làm gia tăng tình trạng cúm ở thai phụ do virus gây cúm và các loại vi khuẩn độc hại khác có khả năng sống sót trong những căn phòng khô hoặc những nơi ẩm thấp trong nhà. Trừ những ngày thời tiết xấu, nếu không, mẹ cũng nên duy trì hoạt động đi bộ ngoài trời để tăng cường hệ miễn dịch, bảo vệ cơ thể khỏi cúm.


11 cách phòng cúm khi mang thai3


11. Tiêm phòng: Trước khi có ý định mang thai khoảng 3 tháng, mẹ nên đi tiêm phòng cúm để bảo vệ bản thân và thai nhi.


Mũi tiêm phòng cúm và mũi 3 trong 1 (phòng sởi – quai bị – rubella) hiện nay khá phổ biến. Mẹ có thể liên hệ với các trung tâm y tế dự phòng, các bệnh viện chuyên khoa sản… để được tiêm phòng.


Cách điều trị


Khi mẹ bị cúm và không sốt: Khi mẹ bị cúm, điều quan trọng nhất là mẹ không nên quá lo lắng, ảnh hưởng tới sự phát triển của bé.


Mẹ nên đi khám bác sĩ để được tư vấn và điều trị đúng mức. Mẹ không nên tự mua thuốc và chữa theo kiểu “kinh nghiệm dân gian”. Nếu chẳng may bị cúm trong thai kỳ (đặc biệt là những tháng đầu), mẹ không nên tự ý quyết định phá thai mà cần phải tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị.


Trên thị trường hiện tại đang có bán một số loại cảm xuyên hương có ghi trên bao bì áp dụng cho thai phụ và sản phụ đang nuôi con nhỏ. Tuy nhiên, chưa có cơ sở nào chứng nhận và kiểm định điều này, vì vậy mẹ không nên dùng các loại cảm xuyên hương khi bị cúm.


Việc đi khám thai đều đặn sẽ giúp bác sĩ phát hiện sớm tất cả những dị tật bên trong và bên ngoài của thai nhi. Từ đó, bác sĩ sẽ có những tư vấn cần thiết cho mẹ.


Nếu mẹ bị cúm, kèm sốt: Trường hợp này, mẹ cũng không nên dùng thuốc bừa bãi. Tốt nhất là mẹ nên đi khám và tuân theo các chỉ dẫn của bác sĩ.


Thời kỳ đầu mang thai là thời kỳ vô cùng quan trọng vì bé đang trong giai đoạn hình thành các cơ quan. Cơ thể bé vì vậy cũng rất mẫn cảm với các loại thuốc – hóa chất. Do đó, khi dùng thuốc (kể cả thuốc đã kê đơn), mẹ nên đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng (nếu có thể, mẹ cần tìm hiểu thêm về bằng chứng an toàn của thuốc trước khi sử dụng).


Khoa học đã chứng minh rằng tỷ lệ khuyết tật tim ở bé sẽ giảm đi đáng kể khi mẹ bị sốt, cảm nhưng có uống bổ sung hỗn hợp vitamin từ 3 tháng trước khi mang thai và kéo dài trong suốt thai kỳ.


Khi mẹ bị sốt, mẹ cũng cần làm các xét nghiệm để chuẩn đoán nguyên nhân (có thể mẹ bị sốt vì nhiễm siêu virus lúc bắt đầu mang thai, lây nhiễm trong thai kỳ, hay mẹ bị nhiễm khuẩn do viêm bể thận, viêm nhau, màng ối, viêm gan siêu vi B… mà lại tưởng là bị cúm). Tùy theo tình trạng của mẹ, bác sĩ sẽ có hướng điều trị hợp lý.


Nếu mẹ chỉ bị sốt nhẹ, bác sĩ có thể theo dõi trong vòng từ 24 đến 48 tiếng. Mẹ không nên tự ý dùng kháng sinh. Mẹ cũng nên tránh các loại thuốc dân gian chưa qua kiểm nghiệm khoa học. Đôi khi, các loại thuốc này có thể gây tác hại cho cả mẹ và bé.


Nếu mẹ bị cúm kèm ho: Đặc biệt ở giai đoạn cuối thai kỳ, mẹ nên cẩn thận với các loại thuốc cũng như liều lượng sử dụng. Một vài loại thuốc ho có thể bị cấm một vài ngày trước khi mẹ trở dạ vì có thể gây ảnh hưởng đến bé yêu. Mẹ cần tránh sử dụng kết hợp nhiều loại thuốc và tốt nhất nên theo chỉ dẫn của bác sĩ.


Mẹ cũng có thể pha hỗn hợp mật ong với chanh và uống ấm để giảm ho. Mẹ cũng có thể ngậm viên ngậm chữa ho hoặc dùng thuốc ho thảo dược, có mật ong nhưng phải hỏi ý kiến bác sĩ trước.


Nếu mẹ bị cúm, kèm nghẹt mũi: Mẹ nên xì mũi thật sạch rồi dùng nước muối sinh lý rửa thường xuyên để làm giảm bớt triệu chứng.


Mẹ hãy thử hít hơi nước nóng. Thêm 2-3 giọt dầu khuynh diệp vào bát nước nóng. Chùm một chiếc khăn lên đầu và cúi xuống bát nước, hít hơi nước bốc lên. Mẹ cũng có thể bật vòi hoa sen nước nóng và ngồi trong phòng tắm khoảng 10 phút.


Để giảm nghẹt mũi ban đêm hoặc khi đi ra ngoài, hãy nhỏ vài giọt dầu khuynh diệp vào khăn giấy và hít thường xuyên. Mẹ cũng có thể thử ăn một số loại bánh kẹo bạc hà.


 



11 cách phòng cúm khi mang thai

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

Những sai lầm nên tránh khi nấu bột và cho bé ăn

Nấu bột với quá nhiều đạm, bắt ép bé phải ăn hết chỗ bột mẹ đã nấu… là những sai lầm mẹ nên tránh.


Theo bác sĩ Nguyễn Thị Yến (Phó trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi trung ương), tùy vào lứa tuổi và khẩu vị của từng bé mà mẹ có thể nấu bột cho phù hợp nhưng phải đảm bảo làm sao bát bột luôn đầy đủ 4 nhóm thực phẩm là chất đạm (thịt, cá, trứng, tôm…), chất béo (dầu, mỡ), chất bột đường (bột, gạo), vitamin và chất khoáng (rau xanh, củ).


Ngoài ra, các chất này cần được cân đối lượng vừa phải để vừa cung cấp đủ năng lượng, chất dinh dưỡng, vừa giúp bé hấp thu và tiêu hóa tốt.


 Những sai lầm nên tránh khi nấu bột và cho bé ăn1

Theo bác sĩ, có 7 sai lầm dưới đây là các mẹ hiện nay hay mắc nhất:


1. Cho bé ăn bột quá sớm


Thời điểm thích hợp nhất để cho bé ăn bột là từ 6 tháng tuổi. Tuy vậy, có rất nhiều mẹ cho con ăn bột từ khi bé mới được 3- 4 tháng và nếu thấy con thích thú lại cho bé ăn nhiều ngay. Lúc này khả năng tiêu hóa tinh bột của bé còn kém, bé dễ bị rối loạn tiêu hóa.


2. Bắt con ăn quá nhiều và phải ăn hết khẩu phần


Ở mỗi tháng tuổi, nhu cầu năng lượng của bé khác nhau và mẹ nên cung cấp một lượng vừa phải. Nếu bắt bé ăn nhiều quá, mà bữa nào cũng cố ép ăn hết bát, bé sẽ chán và sợ ăn.


3. Chỉ cho ăn nước, không ăn cái 


Hiện nay có ít mẹ mắc sai lầm này hơn so với những năm trước. Tuy nhiên, vẫn có chị em ninh xương, nghiền rau, xay thịt chỉ lấy nước, bỏ cái để nấu bột cho con vì nghĩ như thế cũng đủ chất rồi, hay sợ bé bị hóc, nôn. Thực ra, các chất dinh dưỡng, vitamin nằm trong phần xác thực phẩm là chính


4. Quá ưu tiên đạm


Nhiều mẹ nấu bột cứ cho thật nhiều thịt, cá, trứng,… và nghĩ như thế mới đủ chất nhưng lượng đạm quá nhiều không những làm bé rối loạn tiêu hóa mà còn dễ dẫn đến chứng biếng ăn ở bé. Bát bột phải đảm bảo cân đối 4 nhóm thực phẩm.


5. Lười chế biến

Một số phụ huynh có thói quen nấu một nồi bột có đầy đủ thịt, rau từ sáng rồi để bé ăn cả ngày, đến bữa nào lại lấy ra rồi nấu lại. Với cách này, bột bữa sau sẽ có mùi khó chịu, rau giảm chất lượng và chắc chắn bé sẽ không thích ăn.


6. Không cho hoặc cho rất ít dầu 


Điều này khiến bát bột không cung cấp đủ năng lượng cho bé. Thực ra dầu ăn dễ tiêu hóa lại rất giàu năng lượng và giúp hòa tan các chất khác khiến cơ thể dễ hấp thu.


7. Các bữa bột kéo dài quá


Nhiều người cố bắt con ăn hết bát bột, vừa ăn vừa chơi hay đi rong có khi kéo dài cả 1-2 tiếng. Điều này vừa làm bát bột vữa, khó ăn, vừa khiến bé thêm chán.


Hơn nữa bữa ăn kéo dài khiến thời gian tới bữa sau quá ngắn, bé còn chưa kịp cảm thấy đói. Vòng luẩn quẩn này khiến bé ngày càng không muốn ăn. Tốt nhất, bữa ăn chỉ nên kéo dài nhiều nhất là 30 phút, dù bé mới ăn được ít cũng nên kết thúc.


 


 



Những sai lầm nên tránh khi nấu bột và cho bé ăn

Bổ sung lượng đạm hợp lý cho bé từ 6-9 tháng tuổi

Đạm là một trong 4 nhóm chất dinh dưỡng bé ăn dặm cần mỗi ngày. Vì vậy bạn phải bổ sung lượng đạm hợp lý cho bé từ 6-9 tháng tuổi.


- Nhóm cung cấp chất đạm: thịt, cá, tôm, cua, trứng, sữa, đậu (đỗ, lạc), vừng…


- Nhóm cung cấp tinh bột: Gạo, mì, khoai, ngô, ngũ cốc…


- Nhóm cung cấp chất béo: dầu, mỡ, lạc, vừng…


- Nhóm cung cấp vitamin và chất khoáng: Rau, quả, đặc biệt các loại rau có màu xanh thẫm như: Rau ngót, rau muống, rau dền, rau cải, mồng tơi…và các loại quả có màu đỏ hoặc vàng: chuối, đu đủ, xoài…


Bổ sung lượng đạm hợp lý cho bé từ 6-9 tháng tuổi1


Lượng đạm hợp lý cho bé 6-9 tháng


Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia (nhu cầu về chất đạm cho bé được tính như sau):


- Bé dưới 6 tháng có nhu cầu chất đạm trong một ngày là 20g.


- Bé 6-7 tháng cần 20-25g đạm/ngày. Tương đương khoảng 2-3 thìa cafe thịt (cá, tôm…) xay (băm) nhỏ chia 2-3 bữa. Nếu ăn trứng thì chỉ cho bé ăn 1/2 lòng đỏ trứng gà hoặc 2 lòng đỏ trứng chim cút.


- Bé 8-9 tháng: Nhu cầu chất đạm cao hơn, khoảng 50-100g thịt hoặc cá, tôm, đậu phụ trong một ngày chia 3 bữa hoặc một lòng đỏ trứng gà/bữa. Một tuần có thể cho bé ăn 3-4 quả trứng.


Hấp dẫn với salad cá hồi xông khói2


Nên cho bé ăn cả đạm động vật và thực vật


Đạm động vật (gồm thịt, cá… và mỡ lợn, mỡ gà…), còn đạm thực vật gồm dầu ăn hay các loại đỗ… Mẹ nên cho bé ăn cả mỡ và dầu ăn để đảm bảo bé được cung cấp đủ lượng đạm.


Đạm động vật thường có đủ 8 axit amin cần thiết. Còn đạm thực vật có thể thiếu một hoặc nhiều axit amin cần thiết.


Nguy cơ sức khỏe nếu bé thiếu đạm


Theo thạc sĩ, bác sĩ dinh dưỡng Nguyễn Trọng An (Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội), chất đạm (còn gọi là protein) rất cần thiết cho cơ thể, đặc biệt là các bé. Thiếu đạm trong khẩu phần ăn làm bé mệt mỏi, dễ mắc bệnh huyết áp, rối loạn tiêu hóa, dễ bị nhiễm trùng…


Nếu thiếu đạm thường xuyên, bé có nguy cơ bị suy dinh dưỡng thể phù (một dạng suy dinh dưỡng cấp tính, nguy hiểm bởi sự mất khối lượng cơ, hệ thống miễn dịch suy giảm). Lúc này, bé bị phù toàn thân, da lở loét, bong ra từng mảng đỏ như bị bỏng. Mắt bé có thể bị mù do thiếu vitamin A và thường tử vong nếu không được cứu chữa kịp thời”.


Không cho bé ăn quá nhiều đạm


Ăn quá nhiều đạm không có lợi cho bé vì trong quá trình tiêu hóa, chất đạm tạo ra nhiều sản phẩm trung gian gây độc. Nó làm tăng gánh nặng cho gan và thận, khiến cơ thể bé mệt mỏi. Hậu quả là bé khó tiêu hóa, chán ăn, táo bón.


Mặt khác, khẩu phần ăn của bé cần có sự cân đối giữa chất đạm, béo và đường bột. Bởi vậy, nếu ăn nhiều đạm khiến bé khó hấp thu các loại vitamin, không cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể.


 



Bổ sung lượng đạm hợp lý cho bé từ 6-9 tháng tuổi

Giảm thiểu rủi ro do chứng chóng mặt ở người già

Giảm thiểu rủi ro do chứng chóng mặt ở người già. Làm thế nào để giảm thiểu rủi ro do chứng chóng mặt ở người già gây ra.


Chóng mặt có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng với người cao tuổi (NCT) thì không được xem thường. Chóng mặt sẽ làm mất thăng bằng, ngồi dậy, đứng lên rất khó khăn đôi khi gây nên sự cố bất thường (ngã). Bệnh thường xảy ra lúc nửa đêm về sáng. Chóng mặt là một triệu chứng của nhiều bệnh, hay gặp nhất là do rối loạn tiền đình, vì vậy, NCT cần biết để phòng ngừa.


Nguyên nhân gây chóng mặt ở NCT


Có nhiều nguyên nhân gây nên chóng mặt, trong đó rối loạn tiền đình (RLTĐ) là nguyên nhân hàng đầu gây chóng mặt ở NCT. RLTĐ có rất nhiều nguyên nhân: như tuần hoàn kém (rối loạn tuần hoàn não hay thiểu năng tuần hoàn não), thay đổi thời tiết, ngộ độc (ngộ độc thực phẩm), nhiễm khuẩn. Đối với rối loạn tuần hoàn não thường do xơ vữa động mạch, nhất là động mạch cảnh làm cho lượng máu đi lên não bị hạn chế và cũng rất có thể bị xơ vữa cả động mạch não. Xơ vữa thành động mạch chủ yếu do gốc tự do tác động vào thành động mạch, nhất là động mạch não, tổ chức não bộ (được cấu tạo trên 60% là lipid) nên càng dễ tổn thương do gốc tự do. Ngoài ra, RLTĐ còn gặp do bệnh tăng huyết áp hoặc ngay cả bệnh huyết áp thấp. Các bệnh u não, u tiểu não, u dây thần kinh số 8 hoặc thoái hóa cột sống cổ cũng gây nên RLTĐ.


Giam-thieu-rui-ro-do-chong-mat-o-nguoi-cao-tuoi


Xơ vữa động mạch vành – nguyên nhân gây ra chứng chóng mặt


Biểu hiện chóng mặt ở NCT


Chóng mặt có khi chỉ thoáng qua nhưng đôi khi kéo dài hàng giờ, hàng ngày, thậm chí lâu hơn và kèm theo buồn nôn, nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng ồn. RLTĐ là bệnh dễ lặp đi, lặp lại nhiều lần trong một năm. Chóng mặt sẽ làm mất thăng bằng, ngồi dậy, đứng lên rất khó khăn, đôi khi gây nên sự cố bất thường (ngã), đặc biệt là NCT. Bệnh thường xảy ra nhất là lúc nửa đêm gần sáng, khi tỉnh dậy không ngồi lên được do hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và có thể nôn. Người bệnh thấy lao đao, choáng váng, loạng choạng, mất thăng bằng, nếu cố ngồi dậy để đi có thể bị ngã hoặc dúi dụi xuống đất. Nếu cố đi có thể bị ngã và gây nên các sang chấn ở tay, chân, đầu, mặt, thậm chí gây chấn động não. Khi thay đổi tư thế, buồn nôn tăng lên làm cho người bệnh rất sợ trở mình hoặc ngồi dậy. Nếu bệnh nhẹ thì chỉ thoáng qua nhưng nếu nặng thì không thể thay đổi tư thế được, buồn nôn và nôn nhiều.


Làm gì để phòng chóng mặt?


Khi xuất hiện chóng mặt, buồn nôn, cần cho các thành viên trong gia đình biết càng sớm càng tốt và nên nằm nghỉ, giữ nguyên tư thế, không nên ngồi dậy và đặc biệt không cố đi lại. Nếu chóng mặt nhiều, buồn nôn hoặc nôn nhiều thì người nhà nên cho người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất để được khám và cấp cứu càng sớm càng tốt. Sau khi đã hết chóng mặt, buồn nôn thì người bệnh cần được khám chuyên khoa để xác định rõ nguyên nhân giúp cho điều trị có hiệu quả hơn. NCT nên đi khám bệnh định kỳ, đặc biệt là những người đã mắc bệnh RLTĐ, xơ vữa động mạch, tăng mỡ máu. Những người bệnh nếu tiền sử có các bệnh về tim mạch (tăng huyết áp hay huyết áp thấp, xơ vữa động mạch…) thì rất cần khám chuyên khoa tim mạch để được điều trị phối hợp. Nếu nguyên nhân chóng mặt do RLTĐ thì hiện nay, Tây y có nhiều thuốc điều trị hiệu quả. Người bệnh khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân thủ chỉ định của thầy thuốc, không tự động đổi thuốc hoặc tự động thay đổi liều dùng hoặc tự ý ngưng không dùng thuốc, cũng không được tự mua thuốc về điều trị. Ngoài ra, cần vận động cơ thể thường xuyên, nhẹ nhàng nhưng đúng động tác tùy theo sức khỏe của mình và quan trọng hơn là tùy theo loại bệnh tật mà bản thân mình đang gặp phải. Cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý cho NCT để không tăng mỡ máu hoặc hạn chế tăng mỡ máu. Khi đã mắc bệnh RLTĐ thì trong gia đình luôn có một số thuốc cần thiết mua theo đơn của bác sĩ khám bệnh để sử dụng khi cơn chóng mặt, buồn nôn tái phát.


PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu



Giảm thiểu rủi ro do chứng chóng mặt ở người già